Bài hùng biện tiếng Nhật – Nhật Bản màu gì?

Xin chào các bạn! Trong bài viết này, xin được giới thiệu đến các bạn bài hùng biện tiếng Nhật nằm trong top 3 của cuộc thi thuyết trình do hội sinh viên Việt Nam tại Nhật bản tổ chức năm 2021: Nhật Bản màu gì? Mời các bạn cùng theo dõi!

Bài hùng biện tiếng Nhật - Nhật Bản màu gì?

Bài hùng biện tiếng Nhật - Nhật Bản màu gì?

Bài hùng biện tiếng Nhật – Nhật Bản màu gì?

「日本の生活は一体何色?」
”Nihon no seikatsu wa ittai nani iro?”
“Nhật Bản màu gì?”

皆さん、こんにちは!ファットです!
Minasan, konnichiwa! Fatto desu!
Xin chào mọi người! Tôi là Phát!

皆さん、日本に来る前、先輩たちに「日本の生活はどうですか」と質問をしたら、どんな答えが返ってきましたか。
Minasan, Nihon ni kuru mae, senpai-tachi ni “Nihon no seikatsu wa dou desuka” to shitsumon wo shitara, donna kotae ga kaette kimashitaka.
Trước khi đến Nhật Bản, nếu hỏi các anh chị đi trước rằng “Cuộc sống ở Nhật Bản thế nào vậy ạ?” thì họ sẽ trả lời bạn câu gì?

「日本の生活はバラ色ではないよ!」私はそういう言葉を、何人からも言われました。どうですか、皆さんもしかしたら、この言葉を聞くのは初耳ではないでしょう。
“Nihon no seikatsu wa bara iro dewanai yo!” Watashi wa sou iu kotoba wo, nannin kara mo iwaremashita. Dou desuka, minasan moshikashitara, kono kotoba wo kiku no wa hatsumimi dewanai deshou.
“Cuộc sống ở Nhật không hề màu hồng!”, đó là câu trả lời mà tôi nhận được từ rất nhiều người. Các bạn nghĩ sao? Có lẽ đây cũng không phải là lần đầu tiên các bạn nghe những lời này đâu phải không.

しかし、ここで私がずっと気になったのは、もし日本の生活は薔薇色でなければ、一体何色なのか、ということです。
Shikashi, koko de watashi ga zutto ki ni natta no wa, moshi Nihon no seikatsu wa bara iro denakereba, ittai nani iro nanoka, to iu koto desu.
Thế nhưng, điều khiến tôi không ngừng băn khoăn chính là nếu cuộc sống ở Nhật không phải màu hồng, vậy thì rốt cuộc nó mang màu gì.

残念ながら、その質問に誰も答えてくれませんでした。私はその疑問を持ったまま、2019 年の 3月、日本に来ました。
Zannen nagara, sono shitsumon ni dare mo kotaete kuremasendeshita. Watashi wa sono gimon wo motta mama, 2019-nen no 3-gatsu, Nihon ni kimashita.
Thật không may là chẳng có ai giúp tôi trả lời câu hỏi này cả. Mang theo thắc mắc đó, tôi lên đường sang Nhật vào tháng 3 năm 2019.

あれからちょうど 2 年が経ち、やっと私なりの答えが出てきました。では、一体日本の生活はどんな色なのでしょうか。
Are kara choudo 2-nen ga tachi, yatto watashi nari no kotae ga dete kimashita. Dewa, ittai Nihon no seikatsu wa donna iro nano deshouka.
Từ đó đến nay cũng đã được 2 năm, tôi cuối cùng cũng tìm ra được câu trả lời cho riêng mình. Vậy rốt cuộc cuộc sống ở Nhật mang màu gì?

日本の生活は白色です。日本に来たばかりの頃、私はそう思っていました。
Nihon no seikatsu wa hakushoku desu. Nihon ni kita bakari no koro, watashi wa sou omotte imashita.    
Chính là màu trắng. Tôi đã nghĩ như vậy khi vừa mới đặt chân sang Nhật.

何も安定せず、なかなか新しい環境に慣れていない生活だったからです。
Nani mo antei sezu, nakanaka atarashii kankyou ni narete inai seikatsu datta kara desu.
Bởi lúc ấy, tôi vẫn chưa ổn định được cuộc sống, chưa làm quen được với môi trường sống mới.

生活のマナーもよく分からないし、日本人と会話する時に、曖昧な表現にも慣れていませんでした。
Seikatsu no manaa mo yoku wakaranai shi, Nihonjin to kaiwa suru toki ni, aimai na hyougen ni mo narete imasendeshita.
Tôi không hiểu rõ lối sống của người Nhật, cũng không quen với cách diễn đạt mơ hồ của họ khi nói chuyện.

家に帰ったときに、自分ひとりだけで白い壁に囲まれて、なんとなくそういう未知な世界で虚無感を感じていました。
Ie ni kaetta toki ni, jibun hitori dakede shiroi kabe ni kakomarete, nantonaku sou iu michi na sekai de kyomukan wo kanjite imashita.
Về đến nhà, ngồi một mình trong bốn bức tường trắng, tôi cảm thấy đôi chút trống rỗng khi ở tại một thế giới xa lạ như vậy.

なぜ充実したベトナムの生活を離れて、馴染みのない事ばかりの日本に来たのかと、ずっと疑問に思いました。
Naze juujitsu shita Betonamu no seikatsu wo hanarete, najimi no nai koto bakari no Nihon ni kita noka to, zutto gimon ni omoimashita.
Tôi luôn tự hỏi tại sao bản thân lại rời bỏ cuộc sống đủ đầy ở Việt Nam để đến một nơi chỉ toàn những điều xa lạ như Nhật Bản chứ.

その時、私にとっての日本の生活はまるで白紙のようでした。
Sonotoki, watashi ni totte no Nihon no seikatsu wa marude hakushi no you deshita.
Vào thời điểm đó, Nhật Bản đối với tôi giống như một trang giấy trắng vậy.

しかし、一年経って、その白紙が劣等感や孤独感などの灰色を帯びてきました。
Shikashi, ichi-nen tatte, sono hakushi ga rettoukan ya kodokukan nado no haiiro wo obite kimashita.
Có điều, một năm trôi qua, trang giấy trắng ấy đã nhuốm màu xám xịt của tự ti và cô độc.

バイト先でお客さまの言葉がちゃんと聞き取れなかったため、上手く答えられない事が何回もありました。
Baito saki de okyaku-sama no kotoba ga chanto kikitorenakatta tame, umaku kotaerarenai koto ga nankai mo arimashita.
Ở chỗ làm thêm, do không nghe hiểu được những gì khách nói nên đã nhiều lần tôi không thể đáp lời họ.

なぜ何年間も日本語を勉強しているのに、うまく話せないのかと、毎回バイト先でミスをした時にずっと自分を責めていました。
Naze nannenkan mo Nihongo wo benkyou shite iru noni, umaku hanasenai noka to, maikai baito saki de misu wo shita toki ni zutto jibun wo semete imashita.
Cứ mỗi lần mắc sai lầm ở chỗ làm thêm, tôi lại tự trách bản thân mình, tại sao đã học tiếng Nhật nhiều năm như vậy rồi mà lại không thể nói tốt được chứ.

ベトナムにいた時、クラスでいつも元気よく発言したり、盛り上げたりした私は日本の大学に入って、いつの間にか無口になってしまいました。
Betonamu ni ita toki, kurasu de itsumo genki yoku hatsugen shitari, moriagetari shita watashi wa Nihon no daigaku ni haitte, itsunomanika mukuchi ni natte shimaimashita.
Khi còn ở Việt Nam, trong lớp tôi luôn là người rất hăng hái và hoạt ngôn, nhưng khi vào học đại học ở Nhật Bản, tôi lại biến thành một người ít nói từ lúc nào không biết.

結局バイト先だけでなく、授業の時でも言語の壁を乗り越えられませんでした。
Kekkyoku baito saki dakedenaku, jugyou no toki demo gengo no kabe wo norikoerare masendeshita.
Kết cục là không chỉ ở chỗ làm thêm, mà ngay cả trong giờ học, tôi cũng không tài nào vượt qua được trở ngại ngôn ngữ.

こんな自分は嫌だ、どんどん自分に自信がなくなり、毎日落ち込んで、日本人とのコミュニケーションを取るのが過度に緊張を感じていました。
Konna jibun wa iya da, dondon jibun ni jishin ga naku nari, mainichi ochikonde, Nihonjin to no komyunikeeshon wo toru no ga kado ni kinchou wo kanjite imashita.
Tôi ghét con người này của mình, tôi ngày càng mất tự tin vào bản thân, mỗi ngày đều mất tinh thần, hễ cứ giao tiếp với người Nhật là lại bắt đầu lo lắng quá mức.

去年の 9 1 、スマホの使い方が苦手な父がなんとかして、ビデオ通話機能で私に電話をかけてくれました。
Kyonen no 9-gatsu 1-nichi, sumaho no tsukaikata ga nigate na chichi ga nantoka shite, bideo tsuuwa kinou de watashi ni denwa wo kakete kuremashita.
Bố tôi vốn là người không rành sử dụng smartphone, thế nhưng vào ngày 1 tháng 9 năm ngoái, bằng cách nào đó, ông đã gọi video call cho tôi.

「時々電話してくれよ!今日、何の日か覚えてないのかよ」って父が不機嫌な顔をしながら、私を責めていました。
“Tokidoki denwa shite kure yo! Kyou, nan no hi ka oboetenai noka yo” tte chichi ga fukigen na kao wo shinagara, watashi wo semete imashita.
“Lâu lâu phải gọi điện về cho bố chứ! Con không nhớ hôm nay là ngày gì sao”, bố giận dỗi trách móc tôi.

その日は、父の誕生日でした。「お誕生日おめでとう!今年は何歳だっけ」とそっけない態度で聞いたら、父は「もう60歳だよ!お前が成長して帰国するまでは頑張って生きているよ」といつもの優しい表現でニヤニヤして、答えてくれました。
Sono hi wa, chichi no tanjoubi deshita. “Otanjoubi omedetou! Kotoshi wa nansai dakke” to sokkenai taido de kiitara, chichi wa “mou 60-sai da yo! Omae ga seichou shite kikoku suru made wa ganbatte ikite iru yo” to itsumo no yasashii hyougen de niyaniya shite, kotaete kuremashita.
Hôm ấy là sinh nhật của bố. Khi nghe tôi hờ hững hỏi, “Chúc mừng sinh nhật bố! Năm nay bố bao nhiêu tuổi rồi ấy nhỉ?”, bố tươi cười đáp lại bằng những lời dịu dàng như mọi khi: “60 rồi! Bố sẽ cố gắng sống thật khỏe mạnh cho đến ngày con trưởng thành và trở về nước.”

その時、父の笑顔を見て、なんとなくじんとしました。家族の暖かさと現実の厳しさを同時に感じていたのです。
Sonotoki, chichi no egao wo mite, nantonaku jin to shimashita. Kazoku no atatakasa to genjitsu no kibishisa wo douji ni kanjite ita nodesu.
Lúc ấy, khi nhìn thấy nụ cười của bố, tôi bỗng khựng người lại. Sự ấm áp của gia đình và sự khắc nghiệt của thực tế cùng lúc lan tỏa trong người tôi.

気づかないうちに、父はもう60歳になっていました。しかも、私のことをずっと陰ながら見守っていることも気づきませんでした。
Kidzukanai uchi ni, chichi wa mou 60-sai ni natte imashita. Shikamo, watashi no koto wo zutto kagenagara mimamotte iru koto mo kidzukimasendeshita.
Bố đã bước sang tuổi 60 từ lúc nào rồi. Hơn nữa, ông vẫn luôn âm thầm dõi theo tôi mà tôi lại không hề hay biết.

親の期待を裏切って、日本で毎日落ち込んだり、自分のことを落馬にしたりする私は貴重な時間を無駄にしているのではないかと考えていました。
Oya no kitai wo uragitte, Nihon de mainichi ochikondari, jibun no koto wo rakuba ni shitari suru watashi wa kichou na jikan wo muda ni shite iru no dewanaika to kangaete imashita.
Phụ sự kỳ vọng của bố mẹ, ngày nào cũng xuống tinh thần, lại còn lạc mất chính mình nữa chứ, chẳng phải tôi đã lãng phí biết bao nhiêu thời gian quý báu của bản thân rồi hay sao.

その電話のおかげか、なんとなく自分の気持ちに良い変化が現れた気がしました。
Sono denwa no okage ka, nantonaku jibun no kimochi ni yoi henka ga arawareta ki ga shimashita.
Nhờ cuộc điện thoại ấy, tôi nhận ra rằng tâm trạng của bản thân đã có những thay đổi khá tích cực.

人生は自分の思い通りにいかないことばかりだから、どんなことにあっても、とにかく笑顔で積極的に考えながら、やる気を出して、挑戦しようと思えるようになりました。
Jinsei wa jibun no omoidoori ni ikanai koto bakari dakara, donna koto ni atte mo, tonikaku egao de sekkyokuteki ni kangae nagara, yaruki wo dashite, chousen shiyou to omoeru youni narimashita.
Cuộc sống lúc nào cũng không diễn ra theo ý mình, thế nên dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, tôi vẫn sẽ luôn nở nụ cười, lạc quan, lấy động lực đương đầu với thử thách.

クラスで日本人の友達に自分から積極的に話し掛けて、仲良くできました。
Kurasu de Nihonjin no tomodachi ni jibun kara sekkyokuteki ni hanashikakete, nakayoku dekimashita.
Tôi đã chủ động bắt chuyện với các bạn người Nhật trong lớp, nhờ đó đã trở nên thân thiết với họ hơn. 

「バイト先でも、敬語がうまく使えなければ、できるだけ笑顔で丁寧な態度をもって接客してみようよ。そうだ、大事なのは捉え方なのだ」と。
“Baito saki demo, keigo ga umaku tsukaenakereba, dekiru dake egao de teinei na taido wo motte sekkyaku shite miyou yo. Souda, daiji na no wa torae kata nanoda” to.
“Ở chỗ làm thêm, nếu không quen sử dụng kính ngữ thì hãy cứ nở nụ cười và giữ thái độ lịch sự nhất có thể khi tiếp khách thử xem sao. Đúng vậy, điều quan trọng nhất chính là cách nghĩ của bản thân.”

そのポジティブ思考の姿勢のおかげで、最近、日本人の知り合いに「ファット君はいつも明るくて、元気でいいですよね。笑顔も素敵だわ」と何人も褒めてくれました。
Sono pojitibu shikou no shisei no okage de, saikin, Nihonjin no shiriai ni “Fatto-kun wa itsumo akarukute, genki de ii desu yo ne. Egao mo suteki da wa” to nannin mo homete kuremashita.
Nhờ thái độ suy nghĩ tích cực đó mà mới đây, tôi được khá nhiều người quen Nhật khen rằng: “Phát lúc nào cũng vui vẻ và năng động hết nhỉ. Cậu cười lên trông đẹp lắm đó”.

気づいたら、ずっと自分に落ち込んでいた私は、いつの間にか今のようにいつもニコニコして、日本の生活を楽しく過ごせています。
Kidzuitara, zutto jibun ni ochikonde ita watashi wa, itsunomanika ima no youni itsumo nikoniko shite, Nihon no seikatsu wo tanoshiku sugosete imasu.
Không biết từ khi nào, người mà ngày trước lúc nào cũng xuống tinh thần như tôi giờ đây đã có thể tươi cười mọi lúc và thoải mái tận hưởng cuộc sống ở Nhật.

こうして、灰色の背景に明るい色を加えてきました。
Koushite, haiiro no haikei ni akarui iro wo kuwaete kimashita.
Cứ thế, trang giấy xám xịt đã được tô điểm thêm bằng những sắc màu tươi sáng.

、自分の日本の生活には、生活信条を象徴する緑もあり、将来に希望を持っている明るい黄色も追加で現れてきました。
Ima, jibun no Nihon no seikatsu ni wa, seikatsu shinjou wo shouchou suru midori mo ari, shourai ni kibou wo motte iru akarui kiiro mo tsuika de arawarete kimashita.
Giờ đây, cuộc sống ở Nhật của tôi đã có thêm sắc xanh tượng trưng cho niềm tin vào cuộc sống, và sắc vàng tươi sáng mang hy vọng về tương lai.

最後になりましたが、これから、この場で日本に留学する人へのメッセージがあります。
Saigo ni narimashita ga, korekara, kono ba de Nihon ni ryuugaku suru hito e no messeeji ga arimasu.
Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng, tôi muốn gửi đôi lời đến những bạn sắp đi du học Nhật Bản.

皆さん、先に日本に来た私はやっとこのことが分かってきました!日本の生活は確かに薔薇色ではないですよ。
Minasan, saki ni Nihon ni kita watashi wa yatto kono koto ga wakatte kimashita! Nihon no seikatsu wa tashika ni bara iro dewanai desu yo.
Là người đã qua Nhật trước các bạn, tôi cuối cùng cũng nhận ra điều này! Cuộc sống ở Nhật đúng là không hề màu hồng.

だって、虹色だもの。暗い色もあるし、明るい色もあります。様々な色が交わるからこそ、人生が豊かになるでしょう。
Datte, nijiiro damono. Kurai iro mo arushi, akarui iro mo arimasu. Samazama na iro ga majiwaru kara koso, jinsei ga yutaka ni naru deshou.
Đó là bởi nó mang sắc màu cầu vồng. Nó có màu tối và cũng có cả màu sáng. Chính vì có nhiều màu sắc giao thoa với nhau mà đời người mới trở nên phong phú phải không nào.

人生の色の組み合わせは人によって違うので、是非自分に自信を持って、日本に来てください!他の人に聞いてばかりいないで、自分にチャレンジしながら、自分自身で日本の生活の絵を彩色して欲しい!いかに大変な事ににあっても、是非笑顔で積極的に一緒に頑張っていきましょう!
Jinsei no iro no kumiawase wa hito ni yotte chigau node, zehi jibun ni jishin wo motte, Nihon ni kite kudasai! Hoka no hito ni kiite bakari inaide, jibun ni charenji shinagara, jibun jishin de Nihon no seikatsu no e wo saishiki shite hoshii! Ikani taihen na koto ni niattemo, zehi egao de sekkyokuteki ni issho ni ganbatte ikimashou!
Cuộc đời mỗi người sẽ có những cách phối màu khác nhau, thế nên hãy cứ tự tin vào chính mình và lên đường đến Nhật nhé! Đừng chỉ hỏi ý kiến của người khác, hãy thử thách bản thân và tô màu cho bức tranh cuộc sống ở Nhật theo cách của riêng bạn! Dù vất vả đến mấy, hãy cứ nở nụ cười trên môi và tích cực cùng nhau cố gắng bạn nhé!

ご静聴ありがとうございました。
Goseichou arigatou gozaimashita.
Cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe.

以上。
Ijou.
Tôi xin hết.

Trên đây là: Bài hùng biện tiếng Nhật – Nhật Bản màu gì? Cảm ơn các bạn đã theo dõi. Chúc các bạn học tốt!

We on social :
– –

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x